Thép hộp mạ kẽm nhúng nóng Hòa Phát là tên thị trường dùng cho cây hộp vuông hoặc chữ nhật làm từ phôi Hòa Phát, được nhúng vào bể kẽm nóng chảy sau khi đã thành hình. Lớp kẽm của nó không đi theo cuộn tôn như hộp mạ kẽm thường, mà do xưởng mạ tạo ra, nên độ dày được đo theo TCVN 5408:2007 chứ không đọc theo mác tôn. Trang này trả lời ba câu quý khách cần trước khi đặt hàng: lớp kẽm dày bao nhiêu, cây nặng thêm bao nhiêu, và kiểm một lô hàng thế nào cho đúng.

Nhà Máy Hòa Phát Làm Phần Nào, Xưởng Mạ Làm Phần Nào
Theo phần giới thiệu sản phẩm của Công ty TNHH Ống thép Hòa Phát, dòng mạ kẽm nhúng nóng của nhà máy là ống tròn đường kính Φ21,2 – Φ219,1 mm theo BS 1387:1985. Hộp vuông 12 – 150 mm và hộp chữ nhật 10×30 – 100×200 mm được liệt kê ở một dòng riêng, theo TCVN 3783-83, ASTM A53 và ASTM A500. Nhà máy còn có dòng ống tôn mạ kẽm, cán từ tôn cuộn đã mạ sẵn theo JIS G3302.
Nghĩa là cây hộp nhúng nóng đi qua hai nơi. Nhà máy cán, hàn và nắn thành cây hộp. Xưởng mạ làm sạch bề mặt, rồi nhúng cả cây vào bể kẽm. Kẽm chảy ở 419,5 °C, nên bể luôn phải giữ nóng hơn mức đó trong suốt lúc nhúng.
Hai nơi làm hai phần, nên một lô hàng đúng nghĩa đi kèm hai loại giấy:
- CO/CQ của phôi hộp — do nhà máy cấp, cho biết quy cách, mác thép và lô sản xuất.
- Phiếu kiểm tra lớp mạ — do xưởng mạ lập. TCVN 5408:2007 quy định việc nghiệm thu lớp mạ làm trước khi hàng rời xưởng mạ, trừ khi người mua thỏa thuận khác lúc đặt hàng.
Chỉ có tờ thứ nhất thì mới chứng minh được cây thép. Nó chưa nói gì về lớp kẽm, mà lớp kẽm mới là phần quý khách trả thêm tiền để mua.
Lớp Kẽm Dày Bao Nhiêu — Đọc Theo Độ Dày Thành Hộp
TCVN 5408:2007 (tương đương ISO 1461:1999) không đặt một con số chung cho mọi sản phẩm. Mức sàn đi theo độ dày thép nền: thành càng dày, lớp kẽm tối thiểu càng cao.
| Độ dày thành hộp | Chiều dày cục bộ tối thiểu (µm) | Chiều dày trung bình tối thiểu (µm) | Khối lượng kẽm trung bình tối thiểu (g/m²) |
| dưới 1,5 mm | 35 | 45 | 324 |
| 1,5 – dưới 3 mm | 45 | 55 | 396 |
| 3 – dưới 6 mm | 55 | 70 | 504 |
| từ 6 mm trở lên | 70 | 85 | 612 |
Số liệu lấy từ bảng áp cho sản phẩm không quay ly tâm của TCVN 5408:2007. Cột khối lượng quy đổi bằng khối lượng riêng danh nghĩa 7,2 g/cm³ mà chính tiêu chuẩn dùng, tức 1 µm tương ứng 7,2 g/m².
Hai cột chiều dày làm hai việc khác nhau. Cột cục bộ là mức mà trung bình của từng vùng đo phải đạt. Cột trung bình là mức của cả mẫu kiểm. Lô hàng đạt khi cả hai cột cùng đạt.
Đặt Cạnh Hộp Mạ Kẽm Thường
Hộp mạ kẽm thường cán từ tôn đã mạ sẵn. Mác tôn Z12 theo JIS G3302 nghĩa là 120 g/m² tính cho cả hai mặt, tức 60 g/m² mỗi mặt, quy ra khoảng 8,3 µm. Với thành hộp 1,5 – dưới 3 mm, lớp nhúng nóng tối thiểu 55 µm, dày gấp khoảng 6,6 lần. Thành dưới 1,5 mm thì mức sàn 45 µm, gấp khoảng 5,4 lần.
Khác biệt thứ hai nằm ở đường hàn dọc thân. Ở hộp cán từ tôn mạ sẵn, nhiệt hàn đốt mất lớp kẽm ngay tại mối hàn. Hộp nhúng sau khi thành hình thì mối hàn được phủ cùng lúc với phần còn lại, cả mặt ngoài lẫn lòng hộp. Cả dòng hộp mạ kẽm thường đang có tại các trang thép hộp vuông mạ kẽm và thép hộp chữ nhật mạ kẽm.
Nhúng Xong, Cây Nặng Thêm Bao Nhiêu
Lớp kẽm có khối lượng thật, và hộp nhúng nóng bám kẽm cả mặt ngoài lẫn lòng hộp. Bảng dưới tính phần kẽm tối thiểu bám thêm trên một cây 6 m cho mười quy cách thông dụng, lấy diện tích hai mặt nhân với mức trung bình ở bảng trên. Trọng lượng hộp đen tính theo công thức tiết diện góc bo, cùng công thức với barem trên trang thép hộp 90×90.
| Quy cách (mm) | Thành (mm) | Hộp đen (kg/cây 6 m) | Kẽm bám thêm tối thiểu (kg/cây) | Sau khi nhúng, tối thiểu (kg/cây) | Nặng thêm |
| 20×20 | 1,2 | 4,19 | 0,29 | 4,48 | 6,9 % |
| 30×30 | 1,4 | 7,46 | 0,44 | 7,90 | 5,9 % |
| 40×40 | 1,8 | 12,82 | 0,72 | 13,54 | 5,6 % |
| 50×50 | 2,0 | 17,92 | 0,90 | 18,83 | 5,0 % |
| 90×90 | 3,0 | 48,81 | 2,09 | 50,90 | 4,3 % |
| 100×100 | 3,0 | 54,46 | 2,33 | 56,79 | 4,3 % |
| 30×60 | 1,4 | 11,42 | 0,67 | 12,09 | 5,9 % |
| 40×80 | 1,8 | 19,61 | 1,10 | 20,70 | 5,6 % |
| 50×100 | 2,0 | 27,34 | 1,38 | 28,72 | 5,0 % |
| 60×120 | 2,5 | 40,96 | 1,65 | 42,61 | 4,0 % |
Cột cuối cho thấy phần kẽm chỉ thêm khoảng 4,0 – 6,9 % so với cây đen. Đây là mức sàn: TCVN 5408:2007 ghi rõ thành phần hóa học của thép nền và điều kiện nhúng đều làm thay đổi độ dày lớp phủ, nên cây thực tế có thể nặng hơn con số trong bảng.
Vì phần kẽm chỉ vài phần trăm, cân không phân biệt được hàng nhúng nóng với một cây hộp đen dày hơn danh nghĩa một chút. Cân dùng để giao nhận khối lượng. Lớp kẽm thì phải đo trực tiếp, theo cách ở mục dưới.
Kiểm Lớp Kẽm Khi Nhận Hàng
TCVN 5408:2007 ưu tiên đo không phá hủy bằng máy đo từ tính (phương pháp theo ISO 2178). Đầu đo đặt lên mặt thép và đọc ra micromet ngay, không phải cắt mẫu. Bốn điều giữ cho phép đo đúng với tiêu chuẩn:
- Tránh mép và góc. Không đo trên mặt cắt, và không đo trong khoảng 10 mm tính từ mép hay từ góc hộp.
- Đo đủ số cây theo cỡ lô. Lô 4 – 500 cây lấy ít nhất 3 cây, lô 501 – 1.200 cây lấy 5 cây, lô 1.201 – 3.200 cây lấy 8 cây.
- So đúng dòng. Hộp thành 1,4 mm so với dòng dưới 1,5 mm; hộp thành 2,0 mm so với dòng 1,5 – dưới 3 mm. Lấy nhầm dòng là đánh trượt hoặc cho qua oan.
- Đừng loại hàng vì một điểm đo lẻ. Mỗi lần đo của máy từ tính chỉ phủ một diện tích rất nhỏ, nên một số đọc thấp hơn bảng chưa phải lỗi. Tiêu chuẩn so trung bình của cả vùng đo với cột cục bộ.
Hai thứ nhìn thấy bằng mắt mà không phải lý do trả hàng: bề mặt loang vùng xám đậm xám nhạt, và vệt trắng do để hàng nơi ẩm sau khi mạ. TCVN 5408:2007 chấp nhận cả hai, miễn chiều dày lớp kẽm vẫn trên mức tối thiểu. Còn chỗ không bám kẽm, vết phồng rộp, u kẽm và gai sắc có thể gây thương tích thì tiêu chuẩn yêu cầu bề mặt không được có khi nghiệm thu.
Khung Hàn Sẵn: Mua Hộp Đã Nhúng Hay Nhúng Cả Khung
Với khung hàng rào, khung mái hay khung giàn có nhiều mối hàn, thứ tự làm quyết định tuổi thọ. Hàn bằng hộp đã nhúng thì mỗi mối hàn lại là một chỗ mất kẽm, phải xử lý lại bằng sơn giàu kẽm hoặc phun kẽm. Hàn khung bằng hộp đen rồi đem cả khung đi nhúng thì mối hàn được phủ như mọi chỗ khác.
Khi gửi khung đi nhúng, mọi đoạn hộp bị bịt kín phải có lỗ thông hơi và lỗ thoát kẽm. TCVN 5408:2007 đặt yêu cầu này ở mục an toàn, và lý do rất vật lý: không khí và hơi ẩm kẹt trong lòng hộp kín giãn nở rất mạnh khi gặp bể kẽm nóng hơn 419,5 °C. Vị trí và cỡ lỗ nên hỏi xưởng mạ trước khi hàn, đừng đợi tới lúc khung đã xong mới khoan.
Vậy Chọn Hộp Nhúng Nóng Hay Hộp Mạ Kẽm Thường
Theo từng trường hợp, câu trả lời khá rõ:
- Khung trong nhà, giá kệ, đồ sơn phủ ngay: hộp đen là đủ, không cần trả thêm tiền kẽm.
- Mái che, lan can, hàng rào ngoài trời ở khu dân cư khô ráo: hộp mạ kẽm thường là hợp lý.
- Ven biển, nhà xưởng hóa chất, chuồng trại, chân cột chôn đất hoặc ngập nước định kỳ: chọn hộp nhúng nóng. Chỗ nào khó tháo ra sơn lại thì càng nên nhúng.
- Khung nhiều mối hàn đặt trong các môi trường trên: hàn bằng hộp đen, rồi nhúng cả khung.
Dòng ống tròn nhúng nóng thì nhà máy có sản xuất sẵn — xem trang thép ống phi mạ kẽm. Thép hình cũng có hàng nhúng nóng, ví dụ thép V mạ kẽm nhúng nóng.
Đặt Thép Hộp Nhúng Nóng Tại Sắt Thép Lộc Hiếu Phát
Để có báo giá đúng ngay lần đầu, quý khách nêu bốn thứ: quy cách, độ dày thành, số cây, và tiêu chuẩn lớp mạ yêu cầu (mặc định TCVN 5408:2007). Giá hộp nhúng nóng gồm giá phôi cộng phí nhúng kẽm, cả hai thay đổi theo từng đợt, nên Lộc Hiếu Phát báo theo ngày thay vì đăng một con số cố định. Giá phôi của cả dòng tham khảo tại bảng giá thép hộp Hòa Phát.
Hàng giao trong TP.HCM và các tỉnh phía Nam gồm Bình Dương, Đồng Nai, Long An và Tây Ninh. Các dòng khác xem tại trang thép hộp.
- Công Ty TNHH TM DV Lộc Hiếu Phát
- Địa chỉ: 939 Tỉnh Lộ 43, Phường Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh
- Hotline: 028 2201 6666 – 0938 337 999 – 0973 044 767
- Email: lochieuphat@gmail.com






Reviews
There are no reviews yet.