Tôn lạnh và tôn thường khác nhau thế nào? Chọn loại nào cho đúng

Tôn lạnhtôn thường khác nhau ở đúng một chỗ: lớp mạ phủ ngoài tấm thép nền. Thép nền của hai loại gần như giống nhau. Lớp mạ mới là thứ quyết định tấm tôn sống bảy năm hay hai mươi năm.

Người bán hay tóm gọn trong một câu: tôn lạnh bền hơn, mát hơn, đắt hơn. Câu đó đúng ở phần lớn công trình. Nhưng có những mái mà tôn kẽm lại sống lâu hơn tôn lạnh, và đó không phải trường hợp hiếm.

Sắt Thép Lộc Hiếu Phát viết bài này để quý khách đọc được thành phần lớp mạ, hiểu vì sao mỗi loại hỏng theo một kiểu riêng, rồi tự chốt được loại hợp với mái nhà mình.

Mái tôn lạnh mạ hợp kim nhôm kẽm đặt cạnh tấm tôn thường mạ kẽm cán sóng
Tôn lạnh mạ hợp kim nhôm–kẽm bên trái, tôn thường mạ kẽm bên phải — khác nhau nằm ở lớp mạ

Khác nhau nằm ở lớp mạ, không nằm ở thép nền

Cả hai đều ra từ cùng một kiểu dây chuyền nhúng nóng liên tục: cuộn thép cán nguội chạy qua bể kim loại nóng chảy, kéo lên, gạt đều, làm nguội. Khác nhau là bể đó chứa gì.

Tôn thường, gọi đúng tên kỹ thuật là tôn mạ kẽm, có lớp mạ gần như kẽm nguyên chất. Ký hiệu trên tem bắt đầu bằng chữ Z.

Tôn lạnh là tôn mạ hợp kim nhôm–kẽm. Lớp mạ tính theo khối lượng gồm khoảng 55% nhôm, 43,4% kẽm và 1,6% silic, ký hiệu bắt đầu bằng AZ. Thị trường còn gọi là galvalume, aluzinc, zincalume — cùng một họ vật liệu.

Mặt cắt lớp mạ tôn lạnh gồm 55% nhôm, 43,4% kẽm, 1,6% silic so với tôn kẽm gần như nguyên chất
Lớp mạ tôn lạnh có 55% nhôm; lớp mạ tôn kẽm gần như là kẽm nguyên chất

Phần silic 1,6% dễ bị bỏ qua nhưng không thừa. Nhôm nóng chảy ăn rất mạnh vào sắt; thiếu silic, mặt tiếp giáp sinh một lớp hợp kim giòn dày, và lớp mạ sẽ nứt bong khi tấm tôn bị cán dập sóng.

Cái tên “tôn lạnh” là do thị trường Việt Nam đặt, vì lớp nhôm sáng phản xạ nắng nên mái bớt hầm. Hồ sơ kỹ thuật không dùng tên này.

Bảng so sánh theo bảy tiêu chí

Tiêu chí Tôn lạnh (AZ) Tôn thường — tôn kẽm (Z)
Lớp mạ Hợp kim nhôm–kẽm: 55% nhôm, 43,4% kẽm, 1,6% silic Kẽm gần như nguyên chất
Cơ chế chống ăn mòn Màng oxit nhôm che chắn là chính, kẽm bảo vệ điện hoá là phụ Kẽm ăn mòn thay thép, bảo vệ ca-tốt là chính
Phản xạ nhiệt Cao hơn nhờ lớp nhôm sáng Thấp hơn
Ứng xử ở mép cắt, vết trầy Tầm che ngắn hơn, mép rộng và vết sâu dễ rỉ Tầm che rộng hơn, kẽm tự vá vết hở
Môi trường hợp Khí quyển thường, ven biển, mái phơi nắng cả ngày Nơi có amoniac, vữa ướt, môi trường kiềm, nhiều mối hàn
Môi trường không hợp Chuồng trại, tiếp xúc vữa tươi, gỗ tẩm hoá chất chống mối Ven biển gió mặn, mái cần tuổi thọ dài
Tuổi thọ tham khảo Gấp 2 – 4 lần tôn kẽm cùng khối lượng mạ, ở khí quyển thường Mốc để so sánh
Sơn phủ Sơn phủ được; sơn xước thì nền vẫn trụ lâu Sơn phủ được; sơn xước ở ven biển thì kẽm hao nhanh

Mỗi dòng trong bảng có một lý do vật lý đứng sau. Chính nó mới nói được nên chọn gì.

Vì sao lớp nhôm–kẽm bền hơn ngoài trời

Nhôm gặp không khí là sinh ngay một màng oxit mỏng, đặc, bám chắc vào nền. Màng này gần như không tan trong nước mưa, bị cào rách thì tự sinh lại. Nó chặn oxy và hơi ẩm.

Kẽm không làm được như vậy. Sản phẩm ăn mòn của kẽm xốp hơn và trôi dần theo nước mưa, nên lớp kẽm mỏng đi đều đặn. Khí SO₂ ở khu công nghiệp và mưa mang tính axit đẩy tốc độ hao đó lên nhiều lần.

Cấu trúc bên trong lớp mạ còn thêm một tầng bảo vệ nữa. Lúc nguội, phần giàu nhôm kết tinh trước thành các nhánh cây, kẽm dồn vào khe giữa. Ăn mòn muốn xuyên qua phải len theo mạng khe zic-zắc. Đường dài ra thì thời gian kéo dài ra.

Các đợt phơi mẫu ngoài trời kéo dài vài chục năm đều cho cùng một kết quả. Ở khí quyển thường và ven biển, tấm mạ nhôm–kẽm trụ lâu gấp khoảng hai đến bốn lần tấm mạ kẽm cùng khối lượng mạ.

Chính cái khung nhôm đó lại sinh ra điểm yếu ở mục sau.

Chỗ tôn kẽm thắng: mép cắt, chân vít và vết trầy

Kẽm giữ cho thép khỏi rỉ theo hai đường. Một là che chắn vật lý, ai cũng đoán ra. Hai là bảo vệ ca-tốt: kẽm hoạt động hoá học mạnh hơn sắt, nên khi có màng nước mỏng nối hai kim loại, kẽm chịu ăn mòn thay cho thép. Chỗ thép hở ra vẫn được che, dù trên nó không còn lớp mạ nào.

Cơ chế này có tầm với giới hạn, phụ thuộc lượng kẽm huy động được quanh vết hở.

Ở tôn kẽm, toàn bộ lớp mạ là kẽm. Ở tôn lạnh, kẽm chỉ chiếm 43,4% khối lượng, lại bị các nhánh nhôm chia cắt thành khe nhỏ. Lượng kẽm gom được quanh một vết hở vì thế ít hơn. Tầm che ngắn hơn.

Hệ quả rất cụ thể ngoài công trường:

  • Mép cắt của tấm mỏng 0,3 – 0,5 mm rất hẹp, cả hai đều tự che được.
  • Mép cắt tấm dày, lỗ khoan lớn, vết cạy sâu tới thép nền — tôn lạnh rỉ trước.
  • Mối hàn đốt sạch lớp mạ quanh vùng nhiệt. Vá lại bằng sơn giàu kẽm ăn nhập với nền kẽm hơn.

Một chi tiết đội thi công hay làm sai: cắt tôn bằng đá cắt gắn trên máy mài. Tia lửa văng ra là những vảy sắt đang nóng chảy, bám lên mặt tôn quanh đường cắt và ăn xuyên lớp mạ. Vài tháng sau mái mọc lên hàng chục chấm rỉ, rồi chủ nhà đổ lỗi cho chất lượng tôn. Dùng kéo cắt tôn hoặc máy cắt lưỡi răng thì hết.

Mái tôn cũ rỉ sét tại đinh mũ và chân vít, ba chỗ rỉ trước là mép cắt, chân vít và vết trầy sâu
Mép cắt, chân vít và vết trầy sâu là ba chỗ rỉ trước trên mọi mái tôn

Mái có mát hơn thật không, và mát tới đâu

Lớp nhôm sáng phản xạ bức xạ mặt trời khá hơn lớp kẽm, nên tấm tôn lạnh hấp thụ ít nhiệt hơn tấm tôn kẽm cùng độ dày. Phần này đúng.

Phần hay bị nói quá là mức chênh. Cả hai đều là bề mặt kim loại sáng, tức là độ phát xạ nhiệt thấp: nhả nhiệt ngược lên bầu trời rất kém, nên tấm tôn vẫn nóng lên gần bằng nhau dưới nắng trưa. Đổi tôn kẽm sang tôn lạnh không biến mái tôn trần thành mái mát.

Hai thứ hạ nhiệt mạnh hơn nhiều:

  • Lớp sơn phủ. Tôn màu có lớp sơn vừa phản xạ nắng vừa nhả nhiệt tốt, nên tấm tôn nguội hơn hẳn tôn để trần.
  • Lớp cách nhiệt và khe thông gió dưới mái. Nhiệt xuống tới người ở chủ yếu qua bức xạ và đối lưu trong khoảng dưới mái. Xử lý khoảng đó ăn thua hơn đổi loại tôn.

Thêm một điểm ít ai nói: khả năng phản xạ của tôn để trần giảm dần khi bề mặt bám bụi và ố nước. Mái năm đầu và mái năm thứ năm không phản xạ như nhau. Quý khách xem thêm các cách chống nóng cho nhà ở.

Đọc mã lớp mạ trên tem: AZ100, AZ150, Z120

Ký hiệu lớp mạ có hai phần. Chữ cho biết loại mạ — AZ là hợp kim nhôm–kẽm, Z là kẽm. Số cho biết khối lượng lớp mạ tính bằng gam trên mét vuông, cộng cả hai mặt tấm.

AZ100 là 100 g lớp mạ trên mỗi mét vuông. AZ150 là 150 g. Chênh 50 g nghe nhỏ. Nhưng đó là lớp mạ dày hơn một nửa, và thời gian tới lúc rỉ gần như tỉ lệ thuận với khối lượng mạ.

Cách đọc mã lớp mạ AZ100, AZ150 và Z120 trên tem tôn: chữ là loại mạ, số là gam mạ mỗi mét vuông
Chữ cho biết loại mạ, số cho biết bao nhiêu gam mạ trên mỗi mét vuông

Con số này hay bị lẫn với độ dày tấm tôn. Hai thứ khác hẳn nhau:

  • Độ dày tấm, tính bằng mm, quyết định khả năng chịu tải, chống móp, chống rung khi gió giật.
  • Khối lượng lớp mạ, tính bằng g/m², quyết định bao lâu thì rỉ.

Tấm dày mà mạ mỏng vẫn rỉ sớm. Tấm mỏng mà mạ dày thì lâu rỉ nhưng dễ móp. Chọn hai thông số theo hai mục đích riêng — cách chọn độ dày có trong bài độ dày của tôn lợp mái là bao nhiêu.

Lúc đặt hàng, quý khách yêu cầu ghi mã lớp mạ vào phiếu. Hai tấm nhìn giống hệt nhau ngoài bãi có thể là AZ70 và AZ150.

Tiêu chuẩn để đối chiếu khi nghiệm thu

  • Tôn mạ hợp kim nhôm–kẽm: TCVN 7470:2005 (thép tấm và thép băng phủ nhôm/kẽm nhúng nóng); quốc tế đối chiếu JIS G3321 hoặc ASTM A792/A792M.
  • Tôn mạ kẽm nhúng nóng: TCVN 7859:2008; quốc tế đối chiếu JIS G3302 hoặc ASTM A653/A653M.

Chứng chỉ chất lượng của lô hàng cần đủ bốn dòng: mác thép nền, giới hạn chảy, khối lượng lớp mạ theo mã, dung sai độ dày. Thiếu dòng khối lượng mạ thì tờ giấy đó chưa nói gì về tuổi thọ mái.

Chênh giá giữa hai loại có lớn không

Cùng độ dày, cùng khổ, cùng nhà máy, tôn lạnh thường cao hơn tôn kẽm khoảng một phần mười đến một phần năm. Khoảng chênh này nhích lên xuống theo giá nguyên liệu từng thời điểm, nhất là giá nhôm.

Đặt cạnh tuổi thọ gấp hai đến bốn lần, khoảng chênh đó nhỏ. Phép so đúng là chi phí cho mỗi năm sử dụng, cộng tiền công tháo lợp lại. Với mái nhà xưởng, tiền công thay mái và thiệt hại do dừng sản xuất thường lớn hơn tiền tôn.

Đơn giá theo từng mã lớp mạ và từng độ dày, quý khách xem tại bảng giá tôn lạnh.

Vậy chọn loại nào — trả lời theo từng công trình

Đây là khuyến nghị của Sắt Thép Lộc Hiếu Phát cho các trường hợp gặp nhiều nhất.

Nên chọn tôn lạnh (AZ):

  • Mái nhà ở, mái xưởng, mái kho trong nội thành và khu công nghiệp khô ráo: tôn lạnh từ AZ100 trở lên. Nhà ở lâu dài thì lấy thẳng AZ150.
  • Công trình ven biển, vùng gió mang hơi mặn: tôn lạnh AZ150 có sơn phủ. Tôn kẽm để trần ở đây hao lớp mạ rất nhanh. Sát mép sóng thì loại nào để trần cũng không đủ.
  • Mái nhà ở cần bớt nóng: nền nhôm–kẽm phủ sơn màu, kèm lớp cách nhiệt. Đổi tôn mà bỏ lớp cách nhiệt thì không giải quyết được gì.

Nên chọn tôn kẽm (Z):

  • Chuồng trại chăn nuôi, kho phân bón, khu vực có hơi amoniac hoặc môi trường kiềm: tôn kẽm. Lớp nhôm–kẽm xuống rất nhanh trong môi trường kiềm — đây là chống chỉ định, không phải chuyện cân nhắc.
  • Chi tiết chôn trong bê tông hoặc tiếp xúc vữa tươi thường xuyên: tôn kẽm, vì vữa tươi có tính kiềm mạnh.
  • Kết cấu hàn nhiều, khoan nhiều lỗ, cắt gọt nhiều mép hở: tôn kẽm, nhờ khả năng tự che vết hở rộng hơn.
  • Máng xối, ống thoát, chi tiết gấp mép nhiều lớp, chỗ cần hàn thiếc: tôn kẽm dễ thi công hơn.
  • Mái che tạm dưới ba năm — lán trại, quây công trường, che vật tư: tôn kẽm mỏng, lớp mạ nhẹ. Mua đúng tuổi thọ cần dùng, xong việc tháo bỏ không tiếc tiền.

Hai điều cấm áp riêng cho tôn lạnh, không có ngoại lệ. Không để nước mưa chảy từ chi tiết bằng đồng hoặc chì xuống mái. Không cho tôn lạnh chạm trực tiếp gỗ tẩm hoá chất chống mối. Cả hai đều ăn thủng lớp mạ rất nhanh.

Công trình có khí thải axit, nằm gần lò hơi hoặc ống khói thì không chọn theo danh sách trên. Môi trường đó phải khảo sát riêng.

Ba lỗi thi công làm hỏng mái sớm

Để mạt sắt và vít thừa nằm lại trên mái

Mạt khoan, đinh vít rơi, mẩu dây thép buộc — mỗi thứ là một điểm ăn mòn điện hoá. Mưa cuốn nước rỉ chảy dài thành vệt nâu, rồi ăn dần xuống lớp mạ. Quét sạch mái sau khi lợp xong tốn mười lăm phút.

Bắn vít sai vị trí và siết quá tay

Vít bắn vào bụng sóng làm nước đọng quanh chân vít mỗi lần mưa. Siết quá tay thì gioăng cao su bẹp lệch, tôn lõm xuống thành vũng nhỏ. Bắn ở đỉnh sóng, siết đến khi gioăng vừa ép kín rồi dừng.

Xếp tôn còn ướt chồng lên nhau trong kho

Nước lọt vào giữa hai tấm không thoát ra được, sinh vệt ố đen loang lổ. Vệt đó chưa phải rỉ sắt, nhưng là dấu hiệu lớp mạ đã mất một phần. Kê nghiêng, kê cao, che khô.

Câu hỏi thường gặp

Tôn lạnh có bị rỉ không?

Có. Chậm hơn tôn kẽm ở khí quyển thông thường, nhưng không phải không rỉ. Chỗ rỉ trước luôn là mép cắt, chân vít và vết trầy sâu tới thép nền. Đi kiểm tra mái thì bắt đầu từ ba chỗ đó.

Tôn màu là tôn lạnh hay tôn kẽm?

Tôn màu chỉ là lớp sơn phủ nằm trên một trong hai nền đó. Tuổi thọ nằm ở nền, không ở màu sơn. Khi mua, quý khách hỏi thẳng nền là AZ hay Z và mã lớp mạ bao nhiêu — hai tấm nhìn giống hệt nhau có thể lệch nhau cả chục năm tuổi thọ.

Có nên dùng tôn nhựa thay tôn kim loại?

Tôn nhựa hợp với chỗ cần lấy sáng và chỗ có hoá chất ăn mòn kim loại. Chịu lực, chịu nhiệt và tuổi thọ ngoài nắng thì kém hơn. Quý khách xem so sánh tôn nhựa và tôn sắt trước khi quyết định phần mái lấy sáng.

Chọn tôn lợp mái cho nhà ở thì bắt đầu từ đâu?

Bắt đầu từ môi trường và tuổi thọ mong muốn, sau đó mới tới độ dày và màu sơn. Bài chọn tôn lợp mái theo từng hạng mục đi qua đủ các bước.

Mua tôn lạnh và tôn mạ kẽm tại Sắt Thép Lộc Hiếu Phát

Sắt Thép Lộc Hiếu Phát cung cấp tôn mạ hợp kim nhôm–kẽm và tôn mạ kẽm theo nhiều mã lớp mạ, nhiều độ dày, cắt sẵn theo chiều dài công trình. Kho đặt tại TP.HCM, giao trong ngày cho các quận nội thành và giao theo lịch cho Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Phiếu giao hàng ghi rõ mã lớp mạ, độ dày, khổ và xuất xứ để quý khách đối chiếu ngay tại chân công trình.

Khi liên hệ, quý khách cho biết ba điều: hạng mục cần lợp, công trình cách biển bao xa và xung quanh có gì (chuồng trại, hoá chất, khói lò), tuổi thọ mong muốn. Bộ phận kỹ thuật sẽ chốt giúp loại tôn, mã lớp mạ và cách xử lý mép cắt.

Hotline và Zalo: 0938 337 999 — Email: lochieuphat@gmail.com